I. Tiêu chuẩn đánh giá sự đẹp xấu trong nhân tướng
1. Sự hài hòa
- Đây là tiêu chí của nhân tướng học, nghĩa là nó có tính bền vững xuyên suốt từ quá khứ tới hiện tại cũng như tương lai.
- Tiêu chí hài hòa thì có thể định lượng được.
- Sự hài hòa là đặc tính chung Âm Dương, Âm Dương tuy đối lập nhưng phải tìm đến 1 sự hài hòa. Ví dụ ngày đẹp là ngày mà tỷ lệ ngày và đêm tương đương, chênh lệch nhiệt độ thấp.
- Khi đi sâu vào tiêu chí hài hòa thì mỗi nét tướng phải có Âm Dương và tỷ lệ Âm Dương phải tương đối cân. Ví dụ Mũi có Dương là xương và Âm là 2 bên thịt, có Dương là cao và Âm là rộng. Sau này học sâu thì nhìn mọi thứ dưới con mắt Âm Dương. Lòng đen là dương lòng trắng là âm, giữa lông mày và mắt thì lông mày là Dương, mắt là Âm, khi Âm hoặc Dương thái quá là xấu. Sau này học nhân tướng cao cấp luận thuần túy là âm dương hết. Ví dụ miệng là vùng giao tiếp, nếu quá nhiều thịt Âm quá trội, Âm khí quá trội trong thể lý là huyết vượng khí suy suy ra là ham muốn tình dục nhiều, hoàn toàn có thể bổ khuyết cái má đó bằng đông y. Hay ví dụ Miệng là Kim, Mắt là Hỏa, miệng quá thô và dày gọi là Âm Kim quá vượng, miệng quá mỏng gọi là Dương Kim quá vượng….
- Hai tiêu chí tạo nên sự hài hòa:
a. Sự cân đối (đăng đối) trong các bộ vị.
- Đây là tiêu chí đặc biệt quan trọng trong nhân tướng. Các nét tướng trong cơ thể người đều tồn tại đối xứng qua trục hai mạch Nhân và Đốc trên cơ thể. Tất nhiên ko bao giờ có chuyện kích thước 2 bên bằng nhau chuẩn được, nhưng cân đối nghĩa là khó phát hiện ra bằng mắt thường, nếu có thể phát hiện bằng mắt thường thì đây là điểm cực kì xấu, xấu nhất trong nhân tướng.
- Ví dụ lông mày trái và phải nếu khác nhau (trái dựng phải quoặc hoặc trái dày phải mỏng chẳng hạn…) thì gọi là bất cân đối. Đây là tiêu chí xấu trong nhân tướng học và tạo ra cái xấu trong thực thể luôn, lập tức trong tâm trong mệnh của người đó.
- Chiều cao 2 lông mày khi sự nghiệp gặp biến cố thường sẽ có 1 tỷ lệ mất cân đối nhất định, đột nhiên có 1 phần nào đó hơi nhích lên, 1 phần nào đấy hơi chạm xuống, thường khi tôi quan sát 1 đại gia chuẩn bị mạt thì thường có độ lệch về lông mày rất mạnh.
- Chúng ta lấy đường thẳng giữa mũi làm trục thẳng đứng, nếu mũi bị lệch đi thì đó cũng là không cân đối. Cánh mũi to nhỏ khác nhau, 2 tai khác nhau, méo miệng cũng vậy. Người cười hay nhếch 1 nửa miệng cũng là 1 tiêu chí về bất cân đối, thường thể hiện các cấu trúc không tốt trong nhân tướng.
- Chúng ta cũng có thể sử dụng tiêu chí cân đối cho các bộ phận bên dưới cơ thể. Cơ quan đầu là cơ quan chỉ huy, cơ quan thân là cơ quan hành động, cơ quan chân là cơ quan bệ đỡ, gọi là hạ bàn. Ví dụ như tôi cổ dài lưng dài nhưng chân rất ngắn, đó là bất cân đối. Có 1 số người thì thân trên rất to mà chân lại rất bé, vùng bắp đùi rất nhỏ, như cắm 2 cái que vào củ khoai…Hạ bàn chủ về sự ổn định của hậu vận, sự ổn định về tính kết thúc trong vấn đề, thường làm việc tới cuối cùng thì hỏng, cuối đời hay gặp vấn đề.
- Sự mất cân đối thường tạo ra những sự kiện chấn động, tùy đối tượng tác động. Ví dụ mũi là sự nghiệp với nam và chồng với nữ; miệng méo tự nhiên (ko phải do tai biến) thì thường bị phản trắc, thường gặp các đồng đau trong các mối quan hệ đối với tâm tính tốt; ngược lại nếu tâm tính không tốt thì càng làm họ không tốt (kiểu miệng nam mô bụng 1 bồ dao găm). Ví dụ tướng phản mộc mà miệng lệch là 1 trong những tiêu chí tôi chạy đầu tiên, ko bao giờ tiếp xúc.
- Ví dụ tự nhiên có vết mờ trên lông mày mà bên kia không có cũng là tiêu chí lệch.
- Các tác động hậu thiên như tai nạn, bệnh thì ko tính vào lệch trong tâm tướng.
b. Không thái quá
- Trong từng bộ phận tỷ lệ xương/thịt không thái quá, mức độ kín hở, độ cao thấp của từng bộ phân không thái quá. Sự thái quá nằm trong nội bộ của bộ vị, còn tướng cắm nằm trong tổng thể các bộ vị.
- Tướng Kim lộ xương nhưng không được lộ quá, gò má cao nhưng không tạo cảm giác thịt sát xương quá. Tương tự tướng Hỏa má hơi bầu bầu, nhưng không được quá nhiều thịt tạo thành nét chảy chảy ở má thì là thái quá. Môi trên mỏng nhưng ko quá chênh lệch với môi dưới.
- Sự thái quá cho thấy sự cực đoan trong các nét tâm tính mà bộ phận thái quá đó chỉ tới.
- Lông mày đậm thái quá -> lập trường cứng nhắc, lông mày nhợt thái quá -> ko có lập trường.
- Vùng má là vùng tương giao, là vùng chứa cảm xúc trong cơ thể con người nhiều nhất trên toàn bộ diện tướng, nếu vùng má quá nhiều thịt thì sống nạng về cảm xúc và thường bị cảm xúc dẫn lối trong các mối quan hệ.
- Mũi thông thiên được coi là thái quá, cần có 2 gò má cao lên hỗ trợ, khi không có hỗ trợ thì trở thành người cô độc, ít người hỗ trợ.
- Theo tướng pháp Ngô Hùng Diễn, khi 1 bộ phận nào đó trở nên thái quá so với toàn bộ các bộ vị còn lại, gọi là tướng cắm. Ý nghĩa là bề ngoài có vẻ vẫn tính chất đó nhưng thật ra bên trong lại ko có tính chất đó. Ví dụ môi mỏng là ăn nói khéo léo, nhưng môi quá mỏng thì vẫn khéo léo nhưng trong lời nói không còn chân tình nào cả. Lông mày quá đậm bề ngoài có vẻ lập trường cứng rắn, nhưng thực ra bên trong lại không cứng rắn. Mũi quá cao bề ngoài là cái tôi mạnh nhưng thực ra bên trong lại tự ti.
- Vùng mũi chi phối cùng trung vận, vùng nào xuất hiện tướng cắm, nếu vận đó thành công thì thực chất là thành công đi mượn, hết vận cái tan nát luôn, gọi là phát dã hư hoa.
- Người có 2 bộ phận cắm trở lên thường có những vất vả gian truân đặc biệt, có những tính cách đặc biệt, rất khác thường so với người khác, không phải là điều tốt (người ta tự thấy tốt thì ko nói).
- Một trong các tiêu chí của yểu mệnh là có quá nhiều bộ vị cắm.
2. Sự hữu tình
- Đây là tiêu chí liên quan tới đặc tính xã hội, nhận thức xã hội, cấu trúc văn hóa và cái thẩm mỹ học của từng khu vực, từng quốc gia. Ví dụ người phương Tây coi phụ nữ đẹp phải hơi xương xương 1 chút, người phương Đông thì phải hơi bầu bầu 1 chút.
- Tiêu chí hữu tình thì mang nhiều tính định tính hơn.
- Hữu tình là cảm giác có thiện cảm, ưu nhìn và đẹp; được tạo nên bởi sắc tố da tươi tắn, săn chắc; và hình dáng với đường viền rõ ràng. Ví dụ phụ nữ luôn trang điểm để tạo ra viền môi hay sống mũi rõ ràng, hay lông mày rõ ràng để nhìn đẹp hơn.
- Có những tướng không hài hòa nhưng lại hữu tình. Ví dụ mũi cao dọc dừa nhìn sẽ đẹp nhưng nó lại là thái quá, hoặc răng kểnh nhìn cũng có nét quyên nhưng đó là ko hài hòa (như Hồng Nhung). Hoặc người mắt long lanh (mắt ướt) đẹp, nhưng ko hài hòa, đó là mắt buồn. Một số người có mắt rất đặc biệt vòng đen bao quanh đồng tử mầu nâu hoặc nhạt hơn tọa tương phản nhìn rất đẹp (bình thường vòng đen chỉ nhạt hơn 1 chút thôi) đây là tiêu chí thái quá, thường nhìn thấy những điều đặc biệt mà mắt thường không nhìn thấy.
- Cơ thể con người có 2 vùng khí, trong cơ chế là ý sinh khí (tâm tĩnh thì ý minh, ý minh thì khí viên, khí viên thì ngôn đạt), đó là nội khí và ngoại khí.
- Nội khí là do chính bản thân chúng ta rèn luyện tôi rèn lên.
- Ngoại khí là do cách người xung quanh nhìn nhận đánh giá chúng ta. Cái tạo ra ngoại khí đó là danh vọng, địa vị, tiền tài. Ví dụ xin giới thiệu tiến sĩ Tâm lên phát biểu (tư nhiên có sự kính trọng)…
- Con người luôn thích cái đẹp, thì sự hữu tình tạo nên sự yêu thích của người khác, và suy nghĩ đó bám xung quanh các bạn, tạo thành 1 trường ngoại khí, đó chính là cái thần thái (đã dạy). Cái khí chất, tác phong của mọi người tạo ra ngoại khí mạnh nhất. Ví dụ người thần Lộ thì tạo ra những ý Hỏa của người khác nhìn nhận và bám xung quanh người thần Lộ. Hai vùng khí nội ngoại khí tương sinh thì tốt, khắc nhau thì tạo thành sự xung đột.
- Bởi vậy đẹp trai, xinh gái là tốt, nó tạo ra ngoại khí yêu thích của mọi người. Người hữu tình mà ko hài hòa thì gọi là phát dã hư hoa hoặc mò trăng đáy nước. Những người có tướng rất đẹp nhưng hình thần bất tương phối, các nét không hài hòa, vi phạm nhiều nguyên tắc của nhân tướng, thì cuộc sống gian truân.
- Bộ phận mà vừa hài hòa vừa hữu tình là bộ phận đẹp nhất, vì không những cái đẹp đó tốt cho tâm của họ mà còn được người khác hoan hô.
- Trong mô hình tìm nghề của Nhật bản: Sự nghiệp là sự giao nhau của Điều bạn thích x Điều bạn giỏi x Điều xã hội cần. Nếu chỉ 1 hoặc 2 yếu tố thì sao …
- Ví dụ môi trên môi dưới dày gần bằng nhau nhìn ko hữu tình nhưng lại hài hòa, người tâm tính thật thà, rất ổn, nhưng lời nói lại không vào tai người khác.
- Trong tướng học thường xuất hiện nhiều cái hữu tình mà không hài hòa, đó là cái đẹp phù phiếm chóng qua.
- Ví dụ tướng bác Nguyễn Tấn Dũng khá đẹp, lý ra có thể tạo ra sự thay đổi cho Việt Nam, tiếc là tướng thịt quá nhiều, đây là tướng đẹp về hữu tình, về nhân tướng ko hài hòa vì vùng thượng đình và hạ đình cao rộng (suy tưởng và quan hệ tốt) nhưng trung đình hơi ngắn hơn (vùng thực thi hoạt động lại kém).
- Ví dụ trong slide Địch Lệ Ngược Ba có mũi quá cao, mũi thái quá, hôn nhân trục trặc, người cô độc. Bác Đinh La Thăng có 2 má quá dày quá to, quá giàu cảm xúc, giàu nhục dục, ham muốn. Nhu cầu vật chất, hưởng thụ nằm ở má, vừa phải thì là biết hưởng thụ, nếu quá dày thì nhu cầu hưởng thụ cao.
- Người phương Tây mũi rất cao, họ chủ về cái tôi cao, nhưng cũng chủ về cô độc, độc lập từ bé, về giá cũng ở viện dưỡng lão.
- Mắt quá to là hay phóng đại thái quá sự việc.
- Đàn ông có nét tướng rất hữu tình nhưng lại không hài hòa đó là râu quai nón.
II. Tiêu chuẩn đánh giá tướng tài trong quản trị (ko phải quản lý)
1. Năng lực hiệu triệu
- Hiệu triệu là yêu cầu người khác hi sinh 1 điều gì đó vì 1 mục tiêu chung nào đó.
- Các quốc gia phương Tây họ bầu các nguyên thủ đều phải có năng lực hiệu triệu. Người Việt rất coi trọng việc nói, kiểu “nói hay chắc gì làm đã hay…”
- Nói là là hành vi kinh điển của ngôn ngữ, và ngôn ngữ là ảnh chiếu của trí tuệ. Người nói chuẩn theo tiêu chuẩn Thanh tướng đã nêu thường sẽ có khả năng làm tốt.
- Có 3 cấp độ năng lực hiệu triệu:
+ Hiệu triệu bằng ngôn ngữ: đây là loại cơ bản nhất nhưng khó bền vững nhất.
+ Hiệu triệu bằng hành vi: lâu hơn và bền vững hơn.
+ Hiệu triệu bằng nhân cách: đây là loại bền vững nhất.
- Ở những doanh nghiệp đòi hỏi chất xám cao, có sự phức tạp và khó khăn khi vận hành, nhân viên không đơn thuần nghe bạn về hành vi, quản lý buộc phải có năng lực hiệu triệu ít nhất là tầng động lực để nhân viên có động lực làm việc.
- Năng lực hiệu triệu thường xuất hiện ở các tướng có tiêu chí sau:
- 3 điều kiện cần:
+ Mắt đầy đủ tĩnh – minh – sâu (Minh ở đây là minh triết).
+ Miệng có pháp lệnh (có từ thời trẻ trước 40t)
+ Hình thần ko được bất tương phối.
- Điều kiện đủ:
+ Ngôn đi kèm với ngữ: lời nói đúng ngữ pháp, chuẩn ngữ cảnh, có ngữ âm và kết hợp được với ngữ điệu.
- Hiệu triệu chỉ cách thao tính 1 chút, thời này việc hiệu triệu khó nên con người thường dùng phương pháp thao túng, thao túng sẽ gây ra sự phản kháng.
2. Khả năng vận dụng nguồn lực
- Với 1 nguồn lực hạn chế có thể tạo ra những thành quả vượt tưởng tượng của người thường.
- Năng lực vận dụng nguồn lực thường xuất hiện ở các tướng có tiêu chí sau:
- Điều kiện cần:
+ Miệng: răng phải đều và khít.
+ Cười không hở lợi.
+ Khi cười không lộ quá 2/3 hàm răng trên.
+ Lỗ mũi không quá rộng hoặc hếch. Lỗ mũi nhỏ, cánh mũi kín là người có khả năng giữ nguồn lực tuyệt vời.
- Điều kiện đủ:
+ Hình sinh thần (may mắn)
+ Mắt có độ Minh kiểu intelligent.
3. Cụ thể hóa các vấn đề trừu tượng
- Đây là năng lực lõi của một tướng tài.
- Trong cuộc sống chúng ta thường rất rõ mục tiêu (ví dụ kiếm 10 tỷ, lên trưởng phòng..) nhưng khi hỏi mục đích thì lại không rõ. Việc thực thi các mục tiêu rõ ràng rất dễ dàng, điều khó hơn là từ mục đích trừu tượng đưa ra được các mục tiêu cụ thể để thực hiện.
- Bác Hồ là đỉnh cao của việc vận dụng nguồn lực và cụ thể hóa những vấn đề trừu tượng. Thông qua các câu khẩu ngữ như: Người cày có ruộng, Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh… qua đó đã hiệu triệu được cả dân tộc tham gia kháng chiến chống Mỹ.
- Năng lực này thường xuất hiện ở các tướng có tiêu chí sau:
- Điều kiện cần:
+ Trán cao
+ Mắt tĩnh và minh inteligent (có thể không cần sâu)
+ Lông này có đường nét rõ ràng (ko quan trọng đậm nhạt) (đây là tiêu chí phụ)
+ Mắt không được quá to và lồi.
- Điều kiện đủ:
+ Thanh tướng: tròn vành rõ chữ, ngôn đi kèm ngữ.
- Một tướng tài quản trị được doanh nghiệp đương nhiên quản trị được cuộc đời mình. Câu hỏi cuối tôi thường hỏi khi phỏng vấn: nếu cho e nguồn lực vô hạn e muốn trở thành ai sau 10 năm nữa? Nếu trong thời gian rất ngắn họ bật ra ngay được mục đích của mình thì đây là tiêu chí cuối cùng khẳng định những điều các bạn đã quan sát là đúng.
- Những người có mục tiêu kiếm tiền mà không có mục đích thì thường theo chủ nghĩa cơ hội.
- Những nhà quản trị thì quản trị mục đích, còn những nhà quản lý thì quản lý mục tiêu. Hiện nay chúng ta có rất nhiều nhà quản lý giỏi nhưng thiếu những nhà quản trị giỏi. Những nhà quản lý rất giỏi nắm bắt các mục tiêu và có kế hoạch hoàn thành mục tiêu đó nhưng họ không biết mục tiêu đó từ đâu ra. Những nhà quản trị giỏi là những người biến mục đích thành các mục tiêu để các nhà quản lý thực hiện.
III. Trả lời câu hỏi
1. Tính cách tự nhiên và tính cách trong công việc?
- Với DISC có tính cách tự nhiên và tính cách trong môi trường làm việc, có người trong công việc thì tập trung vào chi tiết còn ngoài đời thì khá chung chung khái quát, vậy điểm nào trên diện tướng phản ánh sự khác biệt trong tính cách trong công việc và tính cách tự nhiên?
- Tính cách tự nhiên và tính cách trong công việc ko có biên rõ ràng, tính cách công việc chính là tư duy chậm, tính cách này do ta đã lên kế hoạch từ trước để thực hiện. Tương tự như khi ta lên kế hoạch mua sắm những gì trước khi đi chợ (tư duy chậm), nhưng khi đến chợ có thể sẽ mua những thứ khác (tư duy nhanh). Trong tâm lý học có 2 trạng thái tư duy: tư duy nhanh và tư duy chậm. Tư duy nhanh thường phát sinh do thói quen, do các ẩn ức tâm lý và do nhu cầu bản năng.
- Vậy ở đây là khả năng sử dụng tư duy chậm hay là để tư duy nhanh lấn át. Bạn cần phân biệt được những người như thế nào là khi bật nút “on” họ có thể tư duy chậm ngay? Trong chính trị gia những người thường xuyên ở trạng thái phòng thủ hoặc những lãnh đạo cao cấp họ thuần túy tư duy chậm. Đây là khả năng khống chế tuyệt đối với bản tâm của mình (nói điều đúng chứ ko phải nói điều muốn). Tư duy chậm thuộc về Thanh tướng chứ ko xem được bằng hình tướng.
- Còn lại đại đa số chúng ta dùng tư duy nhanh trong cuộc sống, 80-90%, đặc biệt là người tướng hỏa. Người tướng Hỏa mà dùng tư duy chậm là những người cực giỏi, dùng thanh tướng lấn át hình tướng, như giới chính trị gia. Về mặt hình họ vẫn rất nồng nhiệt, lan tỏa, nhưng khi tư duy họ chiến thắng được họ lan tỏa có chọn lọc, nhiệt tình có sự cẩn trọng.
2. Về thanh tướng đánh giá qua 3 tiêu chí:
1. Cường độ và trường độ: 1 số người nói oang oang nhưng khi đứng xa 1 tí thì ko nghe thấy nữa, đây là giọng có cường độ nhưng ko có trường độ. 1 số người nói nghe rất bình nhưng âm đi rất xa là có trường độ. Giọng nói quý là có cả cường độ và trường độ đều mạnh.
2. Từng đơn nguyên âm phát ra rõ ràng, không luyến vào nhau. Gọi là Tròn vành rõ chữ.
3. Người có khả năng nói Ngôn và Ngữ song hành tốt. Ngôn là lời, từ. Ngữ là ngữ pháp, ngữ điệu (sự trầm bổng lên xuống), ngữ âm và ngữ cảnh. Họ biết trong ngữ cảnh này thì dùng ngôn đó như thế nào cho phù hợp. Họ có khả năng phân biệt các sắc thái từ rất mạnh (ví dụ họ biết dùng cô đơn, cô độc, cô quạnh dùng từ nào cho phù hợp). Trong 1 số bộ môn tu tập họ gọi Ngôn là vùng luân sa số 5, người có khả năng dùng thanh tướng tốt là lời nói có Diệu âm, dẫn dắt được người khác, lan tỏa cho người khác.
- Thanh tướng tốt thì gọi là Nhất thanh phá cửu trọc. Một cái đẹp về thanh tướng có thể phá 9 cái xấu về hình tướng.Và khi học sâu thêm ta sẽ biết 1 cái đẹp về thần tướng sẽ phá được 9 cái xấu về thanh tướng.
- Khi nghe giọng thì nghe giọng nói ở trạng thái bình thường chứ không phải lúc gồng lên nói hay lúc cố ý chỉnh giọng (như lúc hát).
- Có 1 mẹo nhỏ để phát hiện người tư duy chậm làm chủ tư duy nhanh đó là khi trạng thái cảm xúc hưng phấn hoặc tiêu cực âm thanh không thay đổi so với lúc bình thường. Ví dụ người rất say rượu nhưng âm thanh không thay đổi (ngôn và ngữ không thay đổi). Người có tư duy chậm làm chủ tư duy nhanh phản ánh cực mạnh khi uống rượu, đó là lý do tại sao giới quan chức hay thử rượu nhau để họ quan sát điều đó.
- Tiêu chí Ngôn đi kèm với Ngữ là tiêu chí xuất sắc nhất để đánh giá thanh tướng 1 người. Thanh tướng không tự nhiên có, chỉ có cường độ và trường độ là có sẵn, còn 2 tiêu chí sau là tròn vành rõ chữ và ngôn đi kèm với ngữ là tiêu chí có được do luyện tập, rèn luyện trong đời sống tinh thần tạo nên. Người có khả năng tư duy chậm làm chủ tư duy nhanh phương Đông gọi là người có khả năng hàm dưỡng tốt. Đây là tiêu chí rất quan trọng để đào tạo khí chất và khí phách của lãnh đạo xưa.
3. Nguyên lý nào dẫn tới việc vị trí mộ phần lại ảnh hưởng tới Phúc đức?
- Về Đạo đức kinh, 1 trong những cuốn kinh kinh điển đứng đầu Ngũ kinh của Đạo gia, có câu: Nhân pháp địa, Địa pháp thiên, Thiên pháp đạo, Đạo pháp tự nhiên (Người thì theo đất, Đất thì theo trời, Trời vận hành theo Đạo, Đạo thì vận hành theo Tự nhiên). Con người bị ảnh hưởng rất mạnh bởi đất, bởi môi trường sống của bản thân.
- Bằng ngôn ngữ hiện đại, chúng ta biết rằng cha mẹ ông bà chúng ta có liên quan về mặt huyết thống thông qua các mã ADN di truyền. Bản chất của mọi thông tin di truyền kết nối với nhau bằng năng lượng (các tế bào, các chuỗi AND). Năng lượng tạo nên sự truyền đạt thông tin.
- Người xưa phát hiện ra rằng những người chung huyết thống được kết nối với nhau bởi Khí (tức là năng lượng) như các bình thông nhau. Cơ thể vật lý của người cha khi tiếp nhận một lượng khí bao nhiêu (ví dụ trọc khí) thì người con cũng sẽ có sự ảnh hưởng, tương tác ngược lại như thế. Đôi khi sự tương tác Khí mạnh tới mức tác động ngược lại tới Ý bằng việc tạo cho chúng ta một số trạng thái cảm xúc như nóng ruột. bồn chồn bất an, thậm chí mất ngủ khi bố có vấn đề, khi nhà có vấn đề.
- Khi cơ thể của người cha an táng trong 1 ngôi huyệt địa, huyệt địa là nơi mà trường khí của trời đất hài hòa nhất và tốt lành nhất, khi đó cơ thể người bố được tiếp nhận 1 lượng khí cực mạnh và cũng tắc động ngược lại tới con. (Việc này giải thích rất nhiều trong trường hợp 1 đứa trẻ cha mẹ di dị, tách biệt hoàn toàn với người cha, nhưng khi người bố thăng hoặc giảm sự nghiệp, trạng thái tâm lý ảnh hưởng tới người con, mặc dù không có sự tương tác trực tiếp nào hết). Việc thay đổi về Khí trong huyệt địa sẽ thay đổi hoàn toàn khí vận tức là sự may mắn của người con, thậm chí tác động ngược lên cấu trúc suy nghĩ của người con giúp nó thông minh hơn hoặc hiền lành hơn.
- Việc này chúng tôi đã thử nghiệm trong vòng 10 năm vô cùng nhiều. Bằng chứng em gái tôi, khám ở khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai, trưởng khoa nói bệnh con bé này sẽ càng ngày càng nặng, muốn giảm chỉ có thể tăng liều lượng thuốc cực kỳ lớn, và sống với thuốc cả đời, bị rối loạn lưỡng cực kèm tâm thần phân liệt. Sau khi bốc mộ bố tôi, tôi phải thuyết phục 7 năm mới thuyết phục được gia đình bốc mộ, thì khi bốc mộ thấy bố tôi bị rễ cây ăn ở trên đầu là vùng thần kinh. Có những TH cả nhà đau tim, bốc mộ lên thì thấy mộ bị sập, đá đè trên ngực, có những TH liên hệ rất đặc biết. Và sau khi cải táng bố tôi thì sau khoảng hơn 2 tháng, e gái tôi tiến bộ cực nhanh, đạt được 1 trạng thái mà cô trưởng khoa thần kinh nói là 1 sự kỳ lạ dù không thể trở lại như bình thường (vì khi tổn thương thực thể não bộ rồi), e tôi giờ đi lại bình thường, lao động học tập bình thường được rồi. Trước đây cứ khoảng 1 tháng 1 lần có những cơn hưng cảm kinh khủng (xé quần xé áo, đánh ko biết đau).
- Đây là cách giải thích dễ hiểu, người xưa thông qua phong thủy âm trạch có thể tác động, ví dụ: mộ hướng nào tác động tới từng nhánh trong nhà khác nhau, có những ngôi mộ chuyên phát nữ hay chuyên phát nam, phát trưởng hay phát thứ, có mộ thì phát 1 người và diệt 1 người (gọi là Nhất phát nhất sát). Đây là môn học vấn rất sâu.
- Hiện nay khi văn hóa bị suy vi thì âm trạch của con người cũng bị ảnh hưởng. Ví dụ nhiều dòng họ bây giờ có chút tiền lên thì khi xây mộ lại xây lăng đá to đẹp để báo hiếu, nhưng đây là sai lầm vì ngôi mộ muốn tốt phải có nước ra vào. Gọi là: Khí giới thủy tắc chỉ (khí ko gặp nước thì sẽ ngừng lại, thế nên trong cơ thể người khí đi với huyết, huyết ngừng thì khí ngừng). Khi đặt mộ đá rất to, khi nén xuống thì các mạch nước ngầm bị bít lại, ngôi mộ khô rang bên trong và không có thủy, từ đó khí bị ngừng. Bằng chứng là các lăng vua chúa của Trung Quốc không bao giờ làm lăng đá trên mộ cả, trong phong thủy gọi là Thái sơn áp đỉnh. Vùng miền Trung chúng ta chôn cực nông, chỉ khoảng 40-60 cm, cũng không có nước ngầm, nước mưa xuống thì khô đi ngay.
- Hiện nay mộ phần tuy đẹp nhưng bỏ qua những nguyên tắc về mặt tâm linh, nhà nhà đua nhau cải táng về 1 lăng mộ thật đẹp nhưng quên mất nguyên tắc số 1 về tâm linh là an nghỉ, mộ đã nằm đâu thì nên an nghỉ ở đó. Lấy cái mắt đẹp của người dương để quy định cái đẹp của thế giới âm, chạy theo cái đẹp về mặt giả hình bên ngoài.
4. Tâm sinh tướng thì tướng có tác động sinh tâm ko?
- Chúng ta hiểu chữ Tướng ở đây là toàn tầng thân của con người. Thân con người thì gồm thân vật lý, thân năng lượng là thần tướng, thân về mặt khí tức là thanh tướng. Vậy thực chất mối tương quan giữa tâm và tướng là mối tương quan giữa tâm và thân.
- Khi tâm đổi thì thân đổi, chúng ta biết những người trầm cảm căng thẳng thì dạ dày liền có vấn đề, có những hiệu ứng giả dược khi tin vào 1 điều gì đó cơ thể liền khỏi bệnh. Bởi vậy tâm sinh tướng.
- Ngược lại Thân cũng tác động đến Tâm, ví dụ khi con người được tiêm 1 số chất dẫn truyền thần kinh tâm liền hưng phấn hơn, ví dụ dopamin, testosteron. Khi cơ thể hấp nạp 1 số chất như cafein, nicotin,heroin… thì đều gây hưng phấn cho tâm.
- Tâm sinh tướng nghĩa là tâm sinh cho thân, và ngược lại thân cũng tác động đến tâm. Bởi vậy muốn cải sửa tâm tính không nhất thiết tấn công vào tâm mà có thể thông qua việc thay đổi thân của 1 người để làm tâm thay đổi. Ví dụ: người đã tiêu cực đến mức trầm cảm chúng ta khuyên răn không có tác dụng gì cả, cần tác động vào thân bằng nhiều các chất dẫn truyền thần kinh gây hưng phấn, và việc này bao giờ cũng hiệu quả hơn nhiều.
- Lời khuyên: người tướng Mộc Hỏa nên tập luyện các môn vận động tinh (tốt cho gân) có sức bền (bơi, đứng tấn…), người tướng Thổ và Kim nên tập các môn thể thao vận động thô (tốt cho cơ) có sức bật (chạy nhảy, bóng đá, tenis…). Đây là vận động bổ khuyết, tác động vào thân để thay đổi tâm. Người tướng Hỏa tính nóng nên can tạng hay tổn thương, kiêng dùng thực phẩm đỏ và nhiều đạm, nên chuyển sang thực phẩm giàu vitamin và thịt trắng. Đây là một chương riêng: Đông y học trong nhân tướng học.
5. Tướng người gian?
- Người được cho là gian (sẵn sàng nói dối, biển thủ công quỹ, đơm đạt hai người khác…) ngoài tướng phản mộc ra thì còn có tướng thế nào?
- Ai cũng có thể gian, vậy câu hỏi đúng ở đây là trong trường hợp nào thì các loại tướng nào có thể gian? Chúng ta hay quy chụp nhưng thực tế cái gì cũng có thể tốt hoặc xấu tùy môi trường. Bởi vậy nếu dùng nhân tướng hoặc bất kỳ bộ môn nào các bạn chỉ có thể soi được 1 chiều đó là con người đó, chứ các bạn không thể biết môi trường sống của họ.
- Bởi vậy trong môn học này có 3 luật cấm:
+ Không phân thiện ác.
+ Không định chuyện hợp tác. Không khuyên ai bỏ ai, cũng không tác thành cho ai với ai.
+ Không đinh sinh tử. Nếu các bạn xem tướng thấy có 1 người sức khỏe xấu, hãy khuyên họ giữ gìn sức khỏe, cẩn thận cái này cái kia, đừng nói họ chết sớm .
- Nhiều người là thầy rất thích chốt kiểu: số mày bỏ chồng, làm thế thì sướng, làm lễ nhanh, dễ kiếm tiền. Đến lúc người ta cãi nhau, còn có điểm neo tâm lý thì họ lại nghĩ đằng nào cũng bỏ chồng, ký bỏ luôn, thế là tan vỡ gia đình. Đôi khi chúng ta định ra một người là ác do giới hạn sự ngu xuẩn của mình lại làm triệt đường làm ăn của một người, một dòng tộc.
- Vậy tôi vẫn có thể khẳng định được người này gian hay ác nhưng sau khi tôi đã biết được môi trường sống của họ, và nói rằng họ đang như thế trong môi trường sống này, và khi họ thay đổi môi trường thì lời nói của tôi không còn giá trị.
6. Người có thái độ thụ động, lười ngại việc thì có tướng như thế nào?
- Người thụ động khác với người lười việc. Thụ động thì rất rộng, lông này nhạt cũng là thụ động.
- Người lười việc là người hay khất lần, ì, có 3 nhóm:
+ Nhóm người dễ dàng bị các thỏa mãn ngắn hạn chi phối, nên họ bị sao nhãng khỏi mục tiêu cuối. Về tướng thì vùng ý chí phải kém 1 chút, vùng cảm xúc và hưởng thụ sẽ nhiều 1 chút…
+ Nhóm người mà tâm lý coi rằng cái gì cũng không quan trọng. Họ bị vô hiệu hóa vùng lo âu. Luôn ngụy biện kiểu: cùng lắm thì bị… Nhóm người này có bẫy trung bình, nghĩa là chúng ta biết bất kỳ 1 kết quả tốt nào đều phải được trả giá bằng 1 giá tương xứng, thì họ thường đàm phán với bản thân để chấp nhận một cái trung bình ở giữa. Có 1 câu nói rất hay: “chúng ta rất muốn tìm kiếm sự thật nhưng lại rất sợ sự thật, do đó chúng ta thường tạo ra những phiên bản dễ chấp nhận hơn của sự thật”.
+ Nhóm người tư duy nhanh kiểm soát tư duy chậm.
7. Người trán cao có phải là người có tính sáng tạo cao ko?
- Chúng ta cần phân biệt giữa tính suy tưởng và tính sáng tạo. Sáng tạo là 1 hành vi lao động, là sự am hiểu sâu sắc dựa trên những gì đã cũ và cải tiến nó thông qua sự liên tưởng, đối chiếu của các noron thần kinh liên kết với nhau (chất trắng trong não bộ). Tính suy tưởng có thể tạo cho tính sáng tạo tốt hơn chứ ko phải là sáng tạo. Người có trán ngắn hoàn toàn có thể có tính sáng tạo tốt nếu họ lao động nhiều và cải tiến công việc liên tục.

